KHÁI
QUÁT TỪ CỤ TỔ ĐẾN CỤ THỦY TỔ
DÒNG
HỌ KHỔNG HỮU – NGÀNH II (Nam Am)
Lắng
nghe truyền ngôn của các vị trưởng
thượng, theo tài liệu của các bậc tiền nhân.
Theo Hán văn Tân Giáo khoa thư:
"Mộc tất hữu bổn,
thủy tất hữu nguyên, nhân tất hữu tổ
tiên."
“Cây có cội” “Nước có nguồn”
“Người có tổ tiên”
Qua bao cuộc bể dâu, nhiều
biến đổi thăng trầm theo dòng lịch sử
và truyền bá qua các đời thì nguồn gốc đối với dòng
họ Khổng Hữu – Ngành
II, địa chỉ tại Làng Nam (nay là thôn Nam Am, xã Tam
Cường, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng (6) có nguồn gốc
Tổ Tiên mang họ Nguyễn
Văn, là Cụ …………………………, sống trong thời kỳ vua
minh mạng trị vì trong 20 năm (1820-1840. Cụ (Tiên tổ khảo) sinh
sống tại Gừng cốc (nay thuộc thôn………………….xã Hùng
Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Tp Hải Phòng (7)). Cụ tổ
(Tiên Tổ Khảo) có 2 người con trai. Cuối
thời kỳ vua Tự Đức trị vì năm
(1847-1883) và trong khoảng thời kỳ vua Bảo Đại
trị vì năm (1925-1945) hai con trai của cụ ly hương
đến Làng Nam làm ăn sinh sống. Thời kỳ đó
quân Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm
khác, bắt dân Việt phá lúa trồng đay để
phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói
(nạn đói Năm Ất Dậu (8)) đã xảy ra tại Bắc kỳ và
Trung kỳ.
Khi
đó người anh là Nguyễn Văn Viên trở lại
quê hương cũ là xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh
Bảo, ngày nay là:…………………………………………………….;
Còn
người em là Nguyễn Văn Vực ở lại làm ăn
sinh sống tại Làng Nam (nay là làng Nam Am, xã Tam Cường,
huyện Vĩnh Bảo, Tp hải Phòng), từ đó con cháu
của cụ Tiên Tổ Khảo…………………………...........phân chia ra
thành 2 Ngành (hiện nay, vẫn chưa có ghi chép chi tiết
nào về thân thế của cụ Tổ (Tiên Tổ
Khảo) các con cháu sẽ đang và tiếp tục tìm
hiểu để đấu kết gia phả…).
[6].
Địa chỉ mới do
sắp xếp đơn vị hành
chính:…………………………………………………………………………………….
[7].
Địa chỉ mới do
sắp xếp đơn vị hành
chính:…………………………………………………………………………………….
[8].
Nạn đói
năm Ất Dậu là một nạn đói lớn xảy
ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ
tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, làm khoảng
từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.
Tổng quan gia
phả:
-
Số đời từ thủy tổ đến con cháu hiện
nay là: 6 đời. (từ năm 1866 đến năm
2023). Bao gồm:
-
Số lượng gia đình đến nay là:………………
-
Số lượng con cháu đến nay là:……………...
-
Trai:……………… ; Gái:………………….
CỤ TIÊN TỔ KHẢO
…………………
Địa
chỉ: thôn……..xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Tp
Hải Phòng
(……………………………………………………………………………………………………………………………)
Sinh được hai
người con trai là
|
Ngành I 1.
Nguyễn Văn Viên Sau khi xuống Làng Nam làm ăn sinh sống một
thời gian và quay trở về quê hương cũ là xã
Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. |
Ngành II 2.
Nguyễn Văn Vực Cụ ở
lại làm ăn sinh sống tại Làng Nam nay là Làng Nam Am,
xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng
cho đến nay.. Cụ đổi thành họ Khổng
Hữu Vực, hiện nay chưa có nghi chép cụ thể
nào ghi lý do cụ đổi họ. |
+
Ngành I: Cụ
Nguyễn Văn Viên, mang
họ "Nguyễn
Văn" – địa chỉ: Thôn…………………xã Hùng Tiến,
huyện Vĩnh Bảo, Tp Hải Phòng.
Hiện
nay con cháu vẫn chưa có thông tin để đấu
kết gia phả
+
Ngành II:
Cụ Khổng Hữu Vực,
mang họ "Khổng
Hữu". Cụ đổi họ, sống cuộc
sống dân dã để tính kế sâu rễ bền gốc –
địa chỉ: thôn 1, Nam Am, xã Tam Cường, huyện
Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng.
Ai người
dẫn nhập khai cơ ?,
Từ đâu
đưa đến ?, bao giờ ?, tại sao ?
Khơi dòng,
mở đất thế nào?
Nên Ngành, nên nhánh
công lao ai bì!
Do
chiến tranh người con thứ hai của cụ
tổ là: Nguyễn Văn
Vực ở lại làng Nam sinh sống vào cuối
thời kỳ vua Tự Đức và thời kỳ vua
Bảo Đại Trị vì.
Sau một thời gian sinh sống tại Làng Nam (tức
Thôn Nam Am ngày nay) lấy cụ bà là: Khổng Thị Ơn
(cụ là chị cả của cụ: bố đẻ ra
ông Đôn Đạt – theo lời của các cụ
đời thứ 3 truyền thuật lại, con cháu
sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm để đấu
kết gia phả.) rồi sinh con đẻ cháu sau này,
cụ sinh được 5 người con (3 trai, 2 gái),
tới nay quanh Làng Nam am có một số dòng họ Khổng Hữu nhưng
nguồn gốc có liên quan đến dòng họ ta hay không
thì chưa rõ còn cần phải tìm tòi và thời gian
để minh chứng.
Qua
hơn hai thế kỷ con cháu họ "Khổng Hữu – Ngành II" không kể già,
trẻ, gái, trai, đã phát huy được những
truyền thống tốt đẹp, lao động
cần cù, sống giản dị, chịu khó làm ăn,
sống thủy chung có đạo lý, đóng góp sức
người, sức của và trí tuệ cho quê hương
đất nước.
Biết
mấy tự hào theo dòng lịch sử, họ ta
đến nay có nhiều con cháu làm cán bộ, có nhiều con
em được thăng quan tiến chức, có nhiều
cháu vào giảng đường Đại Học, Cao
Đẳng, Trung Học chuyên nghiệp, có nhiều cháu ra
ngoài xã hội, sang nước ngoài làm ăn thành
đạt. Đó là dấu hiệu từng bước
trưởng thành, dấu hiệu đi lên, dấu hiệu
phát triển vào hướng tương lai.
Ở
địa phương, các hộ cơ bản đã thoát
khỏi đói nghèo, eo túng, cảnh tương thân,
tương ái vươn lên đang được phát huy.
Các thế hệ từ đời
thứ 3 đã được cha ông cho theo học chữ
nghĩa và ra làm việc làng, việc nước, các công
việc phụng vụ Giáo hội công giáo tại
địa phương, có con cháu đỗ làm linh mục,
có (ông/bà) làm ông trương, bà trương, có (ông/bà) làm
trưởng ban các ban thuộc nhà xứ, giáo xứ, giáo khu
vv.. ( ban kim nhạc, ban ca đoàn vv…), tất cả
những công việc Phụng vụ đó đều
xuất phát từ cái tâm, cái đức mà cha ông ta
để lại, con cháu sau này cần phải tiếp biên
và phát huy.
Trong
quá trình sinh sống một số con cháu đã phải tha
phương cầu thực, vào Nam vì trong những năm
tháng triền miên kéo dài nhiều thế kỷ, nạn
đói khát hoành hành, nay chưa có điều kiện
để những người ly tán tổ tiên về
với cội nguồn.
Kể
từ khi cụ Khổng
Hữu Vực phát sinh dòng họ (khoảng vào cuối
thời kỳ Vua Tự Đức và thời kỳ Vua
Bảo Đại đương vị cho đến nay
đã có 6 thế hệ (khoảng
trên dưới 157 năm). Từ đời 3 trở
đi, bắt đầu có quan tâm đến việc
lưu giữ thông tin về dòng họ thông qua các câu
chuyện gia đình, thông qua ghi chép, cúng giỗ. Tuy nhiên cho
đến nay, những ghi chép xưa cũ đã hầu
như không còn và những ghi chép đó cũng không
được liên tục và đầy đủ như
kỳ vọng của con cháu sau này. Điều đó
cũng dễ hiểu bởi lịch sử dòng họ
gắn liền với sự thăng trầm của
đất nước. Dù có muốn thì tổ tiên ta cũng
khó mà duy trì được thông tin trong hoàn cảnh mà sự
sống và cái chết của mình luôn bị đe dọa
bởi giặc ngoại sâm, giặc đói,… Cũng có
thể có những ghi chép nhưng lại bị thất
thạc do Chiến tranh, loạn lạc, do tình thế kinh
tế - chính trị đương thời, do không có
đủ phương tiện lưu trữ tốt,…
Nhưng một điều vô cùng giá trị là các thông tin
về tổ tiên được lưu trữ, truyền
miệng từ đời này sang đời khác bằng
những câu chuyện gia đình. Đó là những câu
chuyện về Tiên Tổ, về các cuộc di cư,
về sự ly tan, về sự đoàn tụ, thậm chí
cả những câu chuyện về giai đoạn suy
yếu, những mâu thuẫn cục bộ của dòng
họ,.... Tất cả đều hết sức sống
động, giá trị thông tin cao, đáng trân trọng và
cần phải được ghi chép lại một cách
chân thực, khoa học để giáo dục truyền
thống cho các thế hệ nối tiếp sau này.
Những ghi
chép xưa nhất về dòng họ ta còn lưu trữ
được đó đều là những tài liệu
hết sức quý báu, được ghi chép công phu bằng
trí tuệ, tâm đức sáng ngời của các cụ, các
ông, các con cháu trong dòng họ.
Cuốn
gia phả này được đặt tên là “Gia
phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II”
được manh nha từ năm 2020. Tuy nhiên công việc
thực sự có nhiều tiến triển mạnh đến
năm 2023 nhân sự kiện con cháu về xum họp dòng
họ lần thứ nhất vào tháng 9 âm lịch năm 2023
tại Nam Am, Tam Cường, Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Việc xây dựng và việc đặt tên cuốn Gia
phả này “Gia phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II”
là những cố gắng rất lớn, vượt qua
những suy nghĩ cục bộ, chia rẽ và quan trọng
hơn nó được các cụ đời thứ 3, các ông,
các chú và nhiều người có tâm huyết với dòng
họ ủng hộ, cổ vũ mạnh mẽ và qua
đó, chúng ta thấy được sự đoàn kết
của toàn thể dòng họ, con cháu (hậu duệ) sau này,
hằng năm sẽ bổ xung thông tin để gia
phả dòng họ ngày một hoàn thiện qua từng
thế hệ….
Truyền
thống họ "Khổng
Hữu – Ngành II" chép vào Gia phả là di sản tinh
thần vô giá thiêng liêng cho muôn đời con cháu, mong các
thế hệ tiếp nhau hãy giữ gìn và phát huy những
tinh hoa tốt đẹp để không phụ lòng Tiên
Tổ.
Bộ Gia
Phả này
dẫu chưa đầy đủ, nhưng là cơ
sở để con cháu tìm về lịch sử, cội
nguồn, tiếp tục hoàn chỉnh và đấu kết
Gia Phả.
Cụ
thủy tổ: Khổng Hữu Vực:
Cụ
sinh năm: 1866.
Tạ
thế ngày: 14 tháng 4 năm 1951.
Tức
Ngày Kỷ Mùi, Tháng Quý Tỵ, Năm Tân Mão.
Nhằm:
ngày 19 tháng 5 năm tân mão.
Hưởng
thọ: 85 tuổi.
Vợ:
Khổng Thị Ơn.
Cụ
sinh năm: 1866.
Tạ
thế ngày: 29 tháng 9 năm 1955.
Tức
Ngày Mậu Dần, Tháng Bính Tuất, Năm Ất Mùi.
Nhằm:
ngày 13 tháng 11 năm Ất Mùi.
Hưởng
thọ: 89 tuổi.
Nghĩa trang:
tại Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo,
Thành phố hải phòng:
Để
đảm bảo tính khoa học, dựa trên cở sở
thực tế, Ban biên tập đã phân Chia gia phả này
thành các Ngành; Chi; Nhánh; Gia đình,… Theo đó, họ Khổng Hữu – Ngành
II được chia ra thành 5 ngành nhỏ, gồm: Ngành I, Ngành II, Ngành III và Ngành IV,
Ngành V. Tương ứng với 5 anh chị em trong dòng
họ. Trong đó;
- Ngành I. Người con
gái đầu là Cụ bà: Khổng Thị Suy
Tạ
thế ngày: 19 tháng 4 năm 1973 – cụ hưởng thọ
85 tuổi, cụ kết
hôn với
Cụ
ông: Nguyễn Hữu Thâu,
sinh sống tại Đền Am (xã Hòa Bình, huyện Vĩnh
Bảo, TP. Hải Phòng) thuộc giáo xứ Xuân Điện (9); nhà thờ giáo
xứ tọa lạc tại thôn Bắc Ngãi Am, xã Hòa Bình,
huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; cách Tòa Giám
mục Hải Phòng 30km về phía Nam.
Tạ
thế ngày: 02 tháng 02 năm 1972 – cụ hưởng thọ
87 tuổi. Cụ sinh được hai người con,
một trai và một gái, bao gồm:
Chi
1 (Ông: Nguyễn Hữu Lộ)
Chi
2 (Bà: Nguyễn Thị The)
Nghĩa
trang tại: thôn Bắc Ngãi Am, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh
Bảo, TP. Hải Phòng.
(9). Xuân Điện là một
giáo xứ mới nhưng có lịch sử hình thành dài lâu và
cũng nhiều lần đổi tên. Ban đầu là
họ Ngãi Am, sau đó được đổi thành Đền
Am và giờ đây là Giáo xứ Xuân Điện. Theo giải
thích của các bô lão trong làng thì “Xuân" là chỉ mùa xuân,
mùa mang lại sức sống mới cho vạn vật; “Điện"
chỉ chỗ thờ thần thánh. Xuân Điện nghĩa
là nơi thờ tự và trổ sinh sức sống tốt
tươi.
Giáo
xứ Xuân Điện thuộc giáo hạt Nam Am có nhà
thờ xứ tọa lạc tại xã Hòa Bình huyện
Vĩnh Bảo, phía Đông Nam giáp xã Trấn Dương,
phía Tây giáp xã Lý Học, phía Bắc và Đông Bắc giáp xã Đoàn
Lập (huyện Tiên Lãng), phía Nam Giáp xã Vĩnh Tiến; cách
Tòa Giám mục Hải Phòng 30km về phía Nam.
- Ngành
II. Người con trai thứ hai là. Cụ ông Khổng
Hữu Thư (Ngành trưởng).
Tạ
thế ngày: 29 tháng 5 năm 1946.
Tức
ngày Quý Dậu, tháng Giáp Ngọ, năm Bính Tuất.
Nhằm:
ngày 28 tháng 6 năm 1946.
Cụ kết
hôn với cụ bà Khổng
Thị In ở Khu Trung.
Tạ
thế ngày: 18 tháng 3 năm 1962.
Tức
ngày Canh Dần, tháng Giáp Thìn, năm Nhâm Dần.
Nhằm:
ngày 22 tháng 4 năm 1962.
Nghĩa
trang: tại Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh
Bảo, Thành phố Hải Phòng: thuộc Giáo Xứ Nam Am (10), Giáo Phận
Hải Phòng
Cụ
Khổng Hữu Thư sinh được 8 người
con, bao gồm:
Chi
1 (Cụ ông: Khổng Hữu Thả - Đã mất năm
1956)
Chi
2 (Cụ ông: Khổng Hữu Thong. Hiện
nay vẫn chưa có thông tin của cụ.)
Chi
3 (Cụ bà: Khổng Thị Tào)
Chi
4 (Cụ bà: Khổng Thị Rảo)
Chi
5 (Cụ bà: Khổng Thị Nhỡ)
Chi
6 (Cụ bà: Khổng Thị Tông)
Chi
7 (Cụ ông: Khổng Hữu Cưu) – Chi Trưởng
Chi
8 (Cụ ông: Khổng Hữu Mưu) – Chi Thứ
(10). Vào cuối năm 1689, Giáo
xứ Nam Am được thành lập do các cha dòng thừa
sai Đa Minh và nhận Đức Mẹ Mân Côi làm Đấng
bảo trợ.
Giáo
xứ Nam Am là một xứ đạo trung tâm, trước
đây thuộc phủ Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương,
cách Tòa Giám mục Hải Phòng khoảng 36 km về phía Tây
Nam.
Theo
dân gian, Nam Am được kể vào vùng Đất
Trạng, vì gắn liền với cuộc đời
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, với 18 làng Am
(Thập bát Trang Am). Cho đến nay tên nhiều thôn làng
vẫn gắn liền với chữ Am, trong đó có Nam Am.
Thời kỳ chưa chia tách, Nam Am là xứ đạo
lớn của Giáo phận với 4 khu và 24 giáo họ,
nằm rải rác khắp huyện Vĩnh Bảo.
Năm
thành lập: 1632
Số
nhân danh: 2.700 người
Quan
thầy: Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ
Linh
mục chính xứ: Gioan Baotixita Nguyễn Quang Sách
Giáo
họ trực thuộc: Lôi Làng và Tân Am
Địa
chỉ: Nam Am, Tam Cường, Vĩnh Bảo, Hải Phòng
- Ngành III. Người con
trai thứ 3 là. Cụ ông Khổng Hữu Ư (Ngành
thứ).
Cụ
sinh năm: 1910.
Tạ
thế ngày: 12 tháng 4 năm 1977.
Tức
ngày Bính Tuất, tháng Ất Tỵ, năm Đinh Tỵ.
Nhằm:
ngày 29 tháng 5, năm 1977.
Hưởng
thọ: 67 tuổi.
Nghĩa trang: tại
Hố nai, biên hòa, đồng nai:
Cụ kết
hôn với cụ bà. Nguyễn
Thị Sê ở đập hệ, Thái Bình.
Cụ
sinh năm: 1912.
Tạ
thế ngày 5 tháng 10 năm 1959.
Tức
ngày Tân Mão, tháng Ất Hợi, năm Kỷ Hợi.
Nhằm:
ngày 5 tháng 11, năm 1959.
Hưởng
thọ: 47 tuổi.
Nghĩa trang: tại
Hố nai, biên hòa, đồng nai:
Cụ
sinh được 4 người con. Hiện nay, con cháu
đang sinh sống tại. Hố nai, Biên hòa, Đồng
Nai – thuộc Giáo xứ Bắc Hải (11), Giáo
phận Xuân Lộc (12) và Thành phố Hồ Chí Minh.
bao gồm:
Chi
1. (Cụ bà, Khổng Thị Ra).
Chi
2. (Cụ ông, Khổng Hữu Vạn) – Chi trưởng
Chi
3. (Cụ ông, Khổng Hữu Quốc) – Chi Thứ
Chi
4. (Cụ ông, Khổng Hữu Bảy - Chi Thứ nhất, con cháu
của cụ, hiện nay, đang sống tại, hẻm 783/3 – Phường 6 - Đường
CMT8 – Tân Bình – TP HCM).
(11). Tháng 09.1954, một số
giáo dân, phần lớn thuộc Giáo phận Hải Phòng
gồm các xứ Nam Am, Hội Am, Vĩnh Ninh, Đồng
Giới, Đông Khê, Ngọc Lý, Văn Mạc, Đào Xá và An
Toàn, đến định cư lập nghiệp hai bên
quốc lộ 1A cách Biên Hòa 7 km. Giai đoạn đầu,
đời sống cơ cực nên một số giáo dân
tản mác đi những nơi khác sinh sống. Số giáo
dân còn lại thành lập từng xứ và có nhà thờ
riêng. Trước tình hình số giáo dân đã ít lại chia
thành nhiều xứ, Cha Phêrô Vũ Trọng Thư kêu
gọi các Giáo xứ hợp lại thành lập một Giáo
xứ và lập nên Giáo xứ Bắc Hải. Ngôi thánh đường
đầu tiên của Giáo xứ Bắc Hải được
làm bằng cây, mái lá với diện tích khoảng 60m2. Năm
năm sau, Cha Gioan Baotixita Nguyễn Thanh Hải kế
nhiệm Cha Phêrô phụ trách Giáo xứ và cùng với
cộng đoàn xây dựng nhà thờ mới với
diện tích 450 m2. Năm 1971, Cha Gioan Baotixita và cộng đoàn
Bắc Hải một lần nữa xây nhà thờ mới
với kích thước 19m x 55m bằng vật liệu kiên
cố và tháp chuông cao 42m.
Từ
1975 đến 2005, Cha Giuse Phạm Ngọc Hoan về
phụ trách giáo xứ. Bên cạnh việc nâng đỡ đời
sống đức tin cho cộng đoàn, Cha Giuse đã
chỉnh trang lại thánh đường, xây nhà giáo lý
cũng như các tượng đài. Năm 2005, Cha Đaminh
Bùi Văn Án thay thế Cha Giuse phụ trách Giáo xứ
Bắc Hải. Năm 2012, Cha Đaminh cùng với cộng đoàn
Giáo xứ đại trùng tu toàn bộ nhà thờ và các cơ
sở sinh hoạt tôn giáo khác. Hiện nay, Giáo xứ Bắc
Hải đã có cơ sở vật chất khang trang và đời
sống đạo ngày càng thăng tiến.
Địa
chỉ tại: Phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai.
(12).
Giáo phận Xuân Lộc (tiếng Latin: Dioecesis Xuanlocensis) là
một giáo phận Công giáo Rôma tại Việt Nam. Giáo
phận này có diện tích 6439 km², nằm trong địa bàn
tỉnh Đồng Nai và thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đây là giáo phận đông giáo dân nhất Việt Nam,
với khoảng 1.015.315 dân, chiếm tỷ lệ gần
1/3 dân số của tỉnh (32,78% dân số) trong tổng
số dân trên địa bàn là 3.097.107 người, có 650 linh
mục triều và dòng, 200 đại chủng sinh, và hơn
1.800 nữ tu, 278 giáo xứ. Đây là giáo phận của
những người di cư và nhập cư hình thành và
phát triển
Cai
quản giáo phận này hiện là Giám mục chính tòa Gioan Đỗ
Văn Ngân (từ 2021).
- Ngành IV. Người con
gái thứ 4 là. Cụ bà Khổng Thị Sê.
Cụ
sinh năm: ……………………………….
Tạ
thế ngày: ……………………………….
Tức
ngày ……………………………….
Nhằm:
……………………………….
Hưởng
thọ: ……………………………….
Nghĩa trang: ……………………………….
Cụ kết
hôn với cụ Ông. Khổng
Trung Tài ở khu đông
Cụ
sinh năm: ……………………………….
Tạ
thế ngày: ……………………………….
Tức
ngày ……………………………….
Nhằm:
……………………………….
Hưởng
thọ: ……………………………….
Nghĩa trang: ……………………………….
Hai cụ
sinh được hai người con, bao gồm:
Chi 1. (Cụ ông,
Khổng Trung Giỏi).
Chi 2. (Cụ bà,
Khổng Thị Khéo).
- Ngành V.
Người con trai thứ 5 là. Cụ ông: Khổng Minh
Từ.
Cụ sinh năm: ……………………………….
Tạ thế ngày: 29/09/1990
Tức ngày ……………………………….
Nhằm: ……………………………….
Hưởng thọ: 80
Tuổi
Nghĩa trang: ……………………………….
Cụ
kết hôn với cụ Bà:
Nguyễn Thị Riễm ở Lôi Làng
Cụ sinh năm: ……………………………….
Tạ thế ngày: 20/10/……
Tức ngày ……………………………….
Nhằm: ……………………………….
Hưởng thọ: ……………………………….
Nghĩa trang: ……………………………….
Hai cụ sinh được 4
người con, bao gồm:
Chi 1. (Cụ
ông, Khổng Minh Chới) – Chi trưởng
Chi 2. (Cụ
ông, Khổng Minh Chời) – Chi Thứ
Chi 3. (Cụ
bà, Khổng Thị Hới).
Chi 4. (Cụ
ông, Khổng Minh Hời)
Các con
cháu ở xa, tuy đã thành lập Ngành để thuận
lợi cho việc liên lạc và sinh hoạt. Tuy nhiên, trong
gia phả này, những người định cư ở
xa đó, đều thuộc một trong các Ngành, Chi nêu trên
theo quan hệ huyết thống, đến nay cũng
chưa có sự ghi chép chi tiết nào về các ngành
để lưu truyền hậu thế.
Để
xây dựng thành công Gia phả, những chuyến đi
điền dã đã được tiến hành như:
khảo sát, chụp ảnh các khu mộ; phỏng vấn
trực tiếp các nhân chứng; thu thập, chụp
ảnh các gia phả, các ghi chép tại các gia đình, các chi,
ngành tại Hố Nai – Biên Hòa – Đồng Nai, tại TPHCM,
Tại xã Hùng Tiến, xã Tam Cường, huyện Vĩnh
bảo và tại quê nhà Nam Am vv….. .
Gia
phả này được dựng một cách khoa học và
toàn diện, theo hướng phản ánh tính trung thực
lịch sử, tình đoàn kết của Dòng Họ,
truyền thống uống nước nhớ nguồn
của dân tộc. Nó có bố cục gồm các phần sau:
lời nói đầu, phả
ký, phả đồ, phả hệ, ngoại phả và
phụ khảo. Trong đó phần phả đồ
sẽ được in thành khổ lớn có đầy
đủ họ tên toàn gia tộc từ cụ Thủy
tổ đến đời thứ 3, chỉ rõ anh em,
bố mẹ, ông bà, tổ tiên. Ngoài ra một số phả
đồ nhỏ sẽ được tách ra bổ sung cho
phần phả hệ được tường minh.
Phần phả hệ sẽ được trình bày theo
phương pháp tổng hợp (kết hợp
phương pháp theo chiều ngang và phương pháp theo chiều
dọc): cắt dọc phả hệ ra từng phần
nhỏ (ngành, chi, nhánh, gia đình…), ở phần nhỏ
trình bày theo phương pháp chiều ngang. Phần phả ký
sẽ là những ghi chép phản ánh lịch sử một
cách trung thực, không cường điệu gây phản
cảm và phần này có nhiều thông tin mới. Những thông
tin chưa có hoặc chưa rõ ràng thì sẽ để
dấu chấm "…" nhằm thuận tiện cho
việc thêm thông tin bổ xung vào. Đặc biệt
phần ngoại phả và phụ khảo là những
phần mới mà những gia phả cũ không có.
Trong
gia phả dòng họ Khổng
Hữu – Ngành II, có tới 6 thế hệ. Như
vậy, để phù hợp với muôn đời sau
cũng như thuận tiện trong ghi chép, Ban biên tập
quy ước xưng danh ông/
bà (cụ Ông/ cụ Bà) để thể hiện
sự trang trọng và phân biệt giới tính chứ không
phải ông/ bà trong đại từ xưng hô - thể
hiện vai vế. Còn về thứ tự thế hệ,
vai vế, người đọc sẽ dễ dàng nhận
ra do phả đồ rất cụ thể và các ghi chú
đình kèm. Chẳng hạn số trong ngoặc đơn
() chỉ thế hệ, ví dụ: (2) thế hệ thứ 2.
Hai chữ chỉ 2 mốc năm trong ngoặc kép (nnn1-nnn2) chỉ
năm sinh năm mất, ví dụ: (1866-1951) năm sinh 1866,
năm mất 1951. Theo truyền thống, ngày giỗ trong
gia phả này tất nhiên là ghi theo âm lịch. Ngày sinh và
năm sinh (nếu có) ghi theo dương lịch, một
số trường hợp ghi theo âm lịch sẽ có chú
thích kèm theo.
Về
thứ tự các con trong gia đình, gia phả này nỗ
lực ghi một cách đầy đủ theo thứ
tự không phân biệt con Trai hay con Gái, ai sinh trước ghi
trước. Mặt khác, gia phả chỉ ghi tên
những người con của con trai, nói cách
khác, đó là những người
có thiên chức duy trì nòi giống của
Dòng họ mình. Đây không phải quan điểm
trọng nam khinh nữ, mà những
người con của các con gái mang họ
của bố đã thuộc dòng họ khác và
được theo dõi ở gia phả họ đó, chúng ta
có thể tham khảo gia phả của các dòng họ đó
khi cần. Một số trường hợp con của con
gái theo họ mẹ thì vẫn theo dõi bình thường
như những người con của con trai. Các bà vợ
của các ông trong họ (gọi chung là nàng dâu) vì đã
về làm dâu họ Khổng
Hữu – Ngành II hiển nhiên phải theo dõi, thống kê
đầy đủ nhất có thể.
Tuy
nhiên, một phần do lịch sử để lại,
một phần do việc thu thập hay cung cấp thông tin
còn thiếu đồng bộ nên trong quá trình xây dựng Gia
phả Dòng Họ Khổng
Hữu – Ngành II, có người nhiều thông tin, có
người ít thông tin, thậm chí có người không có
những thông tin cơ bản như tên, ngày giỗ,… Đó
không phải sự thiên vị, quý mến hay ghét bỏ ai
đó, đơn giản là gia phả muốn phản ánh
đầy đủ thông tin nhất có thể, ai không có
thông tin hoặc chưa cung cấp thông tin thì đành
để trống. Có những khó khăn mà chưa khắc
phục được và có những phần việc
chưa thể hoàn thành như: thứ tự anh em trong gia
đình có thể chưa đúng, sai chính tả, đánh
nhầm tên, đệm, đánh nhầm thứ tự
thế hệ, ngày tháng năm sinh hầu như chưa có,
ngày giỗ có thể nhầm hoặc chưa có,… Mong
muốn thì nhiều, kỳ vọng cũng nhiều
nhưng sức người có hạn, nhiều việc cảm
giác như “lực bất tòng tâm”. Vì thế thật khó mà
tránh khỏi những thiếu sót. Mong rằng những
thiếu sót này sẽ được các thành viên trong dòng
họ nhiệt tình góp ý, phản biện vv… để các
lần xuất bản sau hoàn thiện hơn. Cũng mong
rằng, các hậu duệ sau này có được trí
tuệ, công cụ và phương pháp tốt hơn
để những trang sử truyền thống của
dòng họ mãi mãi được duy trì, có sức hấp
dẫn và có nhiều thông tin hơn.
Để
phục vụ nguyện vọng của từng Ngành,
từng Chi, ngoài việc xuất bản cuốn “Giả
phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II”, Ban biên tập còn xuất
bản một số gia phả các Ngành, các Chi để có
thông tin về các ngành khác hoặc toàn dòng họ thì
độc giả có thể xem cuốn “Gia phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II”.

0 Nhận xét: