Ông tổ khai sáng dòng họ


KHÁI QUÁT TỪ CỤ TỔ ĐẾN CỤ THỦY TỔ

DÒNG HỌ KHỔNG HỮU – NGÀNH II (Nam Am)

Lắng nghe truyền ngôn của các vị trưởng thượng, theo tài liệu của các bậc tiền nhân. Theo Hán văn Tân Giáo khoa thư:

"Mộc tất hữu bổn, thủy tất hữu nguyên, nhân tất hữu tổ tiên."

“Cây có cội” “Nước có nguồn” “Người có tổ tiên”

Qua bao cuộc bể dâu, nhiều biến đổi thăng trầm theo dòng lịch sử và truyền bá qua các đời thì nguồn gốc đối với dòng họ Khổng Hữu – Ngành II, địa chỉ tại Làng Nam (nay là thôn Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng (6) có nguồn gốc Tổ Tiên mang họ Nguyễn Văn, là Cụ …………………………, sống trong thời kỳ vua minh mạng trị vì trong 20 năm (1820-1840. Cụ (Tiên tổ khảo) sinh sống tại Gừng cốc (nay thuộc thôn………………….xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Tp Hải Phòng (7)). Cụ tổ (Tiên Tổ Khảo) có 2 người con trai. Cuối thời kỳ vua Tự Đức trị vì năm (1847-1883) và trong khoảng thời kỳ vua Bảo Đại trị vì năm (1925-1945) hai con trai của cụ ly hương đến Làng Nam làm ăn sinh sống. Thời kỳ đó quân Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân Việt phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (nạn đói Năm Ất Dậu (8)) đã xảy ra tại Bắc kỳ và Trung kỳ.

Khi đó người anh là Nguyễn Văn Viên trở lại quê hương cũ là xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, ngày nay là:…………………………………………………….;

Còn người em là Nguyễn Văn Vực ở lại làm ăn sinh sống tại Làng Nam (nay là làng Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, Tp hải Phòng), từ đó con cháu của cụ Tiên Tổ Khảo…………………………...........phân chia ra thành 2 Ngành (hiện nay, vẫn chưa có ghi chép chi tiết nào về thân thế của cụ Tổ (Tiên Tổ Khảo) các con cháu sẽ đang và tiếp tục tìm hiểu để đấu kết gia phả…).

 

[6]. Địa chỉ mới do sắp xếp đơn vị hành chính:…………………………………………………………………………………….

[7]. Địa chỉ mới do sắp xếp đơn vị hành chính:…………………………………………………………………………………….

[8]. Nạn đói năm Ất Dậu là một nạn đói lớn xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.

 

Tổng quan gia phả:

- Số đời từ thủy tổ đến con cháu hiện nay là: 6 đời. (từ năm 1866 đến năm 2023). Bao gồm:

- Số lượng gia đình đến nay là:………………

- Số lượng con cháu đến nay là:……………...

- Trai:……………… ; Gái:………………….

 

CỤ TIÊN TỔ KHẢO

…………………

Địa chỉ: thôn……..xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Tp Hải Phòng

(……………………………………………………………………………………………………………………………)

Sinh được hai người con trai là

Ngành I

1. Nguyễn Văn Viên

Sau khi xuống Làng Nam làm ăn sinh sống một thời gian và quay trở về quê hương cũ là xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng.

Ngành II

2. Nguyễn Văn Vực

Cụ ở lại làm ăn sinh sống tại Làng Nam nay là Làng Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng cho đến nay.. Cụ đổi thành họ Khổng Hữu Vực, hiện nay chưa có nghi chép cụ thể nào ghi lý do cụ đổi họ.

+ Ngành I: Cụ Nguyễn Văn Viên, mang họ "Nguyễn Văn" – địa chỉ: Thôn…………………xã Hùng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Tp Hải Phòng.

Hiện nay con cháu vẫn chưa có thông tin để đấu kết gia phả

+ Ngành II: Cụ Khổng Hữu Vực, mang họ "Khổng Hữu". Cụ đổi họ, sống cuộc sống dân dã để tính kế sâu rễ bền gốc – địa chỉ: thôn 1, Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng.

Ai người dẫn nhập khai cơ ?,

Từ đâu đưa đến ?, bao giờ ?, tại sao ?

Khơi dòng, mở đất thế nào?

Nên Ngành, nên nhánh công lao ai bì!

Do chiến tranh người con thứ hai của cụ tổ là: Nguyễn Văn Vực ở lại làng Nam sinh sống vào cuối thời kỳ vua Tự Đức và thời kỳ vua Bảo Đại Trị vì. Sau một thời gian sinh sống tại Làng Nam (tức Thôn Nam Am ngày nay) lấy cụ bà là: Khổng Thị Ơn (cụ là chị cả của cụ: bố đẻ ra ông Đôn Đạt – theo lời của các cụ đời thứ 3 truyền thuật lại, con cháu sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm để đấu kết gia phả.) rồi sinh con đẻ cháu sau này, cụ sinh được 5 người con (3 trai, 2 gái), tới nay quanh Làng Nam am có một số dòng họ Khổng Hữu nhưng nguồn gốc có liên quan đến dòng họ ta hay không thì chưa rõ còn cần phải tìm tòi và thời gian để minh chứng.

Qua hơn hai thế kỷ con cháu họ "Khổng Hữu – Ngành II" không kể già, trẻ, gái, trai, đã phát huy được những truyền thống tốt đẹp, lao động cần cù, sống giản dị, chịu khó làm ăn, sống thủy chung có đạo lý, đóng góp sức người, sức của và trí tuệ cho quê hương đất nước.

Biết mấy tự hào theo dòng lịch sử, họ ta đến nay có nhiều con cháu làm cán bộ, có nhiều con em được thăng quan tiến chức, có nhiều cháu vào giảng đường Đại Học, Cao Đẳng, Trung Học chuyên nghiệp, có nhiều cháu ra ngoài xã hội, sang nước ngoài làm ăn thành đạt. Đó là dấu hiệu từng bước trưởng thành, dấu hiệu đi lên, dấu hiệu phát triển vào hướng tương lai.

Ở địa phương, các hộ cơ bản đã thoát khỏi đói nghèo, eo túng, cảnh tương thân, tương ái vươn lên đang được phát huy.

Các thế hệ từ đời thứ 3 đã được cha ông cho theo học chữ nghĩa và ra làm việc làng, việc nước, các công việc phụng vụ Giáo hội công giáo tại địa phương, có con cháu đỗ làm linh mục, có (ông/bà) làm ông trương, bà trương, có (ông/bà) làm trưởng ban các ban thuộc nhà xứ, giáo xứ, giáo khu vv.. ( ban kim nhạc, ban ca đoàn vv…), tất cả những công việc Phụng vụ đó đều xuất phát từ cái tâm, cái đức mà cha ông ta để lại, con cháu sau này cần phải tiếp biên và phát huy.

Trong quá trình sinh sống một số con cháu đã phải tha phương cầu thực, vào Nam vì trong những năm tháng triền miên kéo dài nhiều thế kỷ, nạn đói khát hoành hành, nay chưa có điều kiện để những người ly tán tổ tiên về với cội nguồn.

Kể từ khi cụ Khổng Hữu Vực phát sinh dòng họ (khoảng vào cuối thời kỳ Vua Tự Đức và thời kỳ Vua Bảo Đại đương vị cho đến nay đã có 6 thế hệ (khoảng trên dưới 157 năm). Từ đời 3 trở đi, bắt đầu có quan tâm đến việc lưu giữ thông tin về dòng họ thông qua các câu chuyện gia đình, thông qua ghi chép, cúng giỗ. Tuy nhiên cho đến nay, những ghi chép xưa cũ đã hầu như không còn và những ghi chép đó cũng không được liên tục và đầy đủ như kỳ vọng của con cháu sau này. Điều đó cũng dễ hiểu bởi lịch sử dòng họ gắn liền với sự thăng trầm của đất nước. Dù có muốn thì tổ tiên ta cũng khó mà duy trì được thông tin trong hoàn cảnh mà sự sống và cái chết của mình luôn bị đe dọa bởi giặc ngoại sâm, giặc đói,… Cũng có thể có những ghi chép nhưng lại bị thất thạc do Chiến tranh, loạn lạc, do tình thế kinh tế - chính trị đương thời, do không có đủ phương tiện lưu trữ tốt,… Nhưng một điều vô cùng giá trị là các thông tin về tổ tiên được lưu trữ, truyền miệng từ đời này sang đời khác bằng những câu chuyện gia đình. Đó là những câu chuyện về Tiên Tổ, về các cuộc di cư, về sự ly tan, về sự đoàn tụ, thậm chí cả những câu chuyện về giai đoạn suy yếu, những mâu thuẫn cục bộ của dòng họ,.... Tất cả đều hết sức sống động, giá trị thông tin cao, đáng trân trọng và cần phải được ghi chép lại một cách chân thực, khoa học để giáo dục truyền thống cho các thế hệ nối tiếp sau này.

Những ghi chép xưa nhất về dòng họ ta còn lưu trữ được đó đều là những tài liệu hết sức quý báu, được ghi chép công phu bằng trí tuệ, tâm đức sáng ngời của các cụ, các ông, các con cháu trong dòng họ.

Cuốn gia phả này được đặt tên là “Gia phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II” được manh nha từ năm 2020. Tuy nhiên công việc thực sự có nhiều tiến triển mạnh đến năm 2023 nhân sự kiện con cháu về xum họp dòng họ lần thứ nhất vào tháng 9 âm lịch năm 2023 tại Nam Am, Tam Cường, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Việc xây dựng và việc đặt tên cuốn Gia phả này “Gia phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II” là những cố gắng rất lớn, vượt qua những suy nghĩ cục bộ, chia rẽ và quan trọng hơn nó được các cụ đời thứ 3, các ông, các chú và nhiều người có tâm huyết với dòng họ ủng hộ, cổ vũ mạnh mẽ và qua đó, chúng ta thấy được sự đoàn kết của toàn thể dòng họ, con cháu (hậu duệ) sau này, hằng năm sẽ bổ xung thông tin để gia phả dòng họ ngày một hoàn thiện qua từng thế hệ….

Truyền thống họ "Khổng Hữu – Ngành II" chép vào Gia phả là di sản tinh thần vô giá thiêng liêng cho muôn đời con cháu, mong các thế hệ tiếp nhau hãy giữ gìn và phát huy những tinh hoa tốt đẹp để không phụ lòng Tiên Tổ.

Bộ Gia Phả này dẫu chưa đầy đủ, nhưng là cơ sở để con cháu tìm về lịch sử, cội nguồn, tiếp tục hoàn chỉnh và đấu kết Gia Phả.

Cụ thủy tổ: Khổng Hữu Vực:

Cụ sinh năm: 1866.

Tạ thế ngày: 14 tháng 4 năm 1951.

Tức Ngày Kỷ Mùi, Tháng Quý Tỵ, Năm Tân Mão.

Nhằm: ngày 19 tháng 5 năm tân mão.

Hưởng thọ: 85 tuổi.

Vợ: Khổng Thị Ơn.

Cụ sinh năm: 1866.

Tạ thế ngày: 29 tháng 9 năm 1955.

Tức Ngày Mậu Dần, Tháng Bính Tuất, Năm Ất Mùi.

Nhằm: ngày 13 tháng 11 năm Ất Mùi.

Hưởng thọ: 89 tuổi.

Nghĩa trang: tại Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố hải phòng:

Để đảm bảo tính khoa học, dựa trên cở sở thực tế, Ban biên tập đã phân Chia gia phả này thành các Ngành; Chi; Nhánh; Gia đình,… Theo đó, họ Khổng Hữu – Ngành II được chia ra thành 5 ngành nhỏ, gồm: Ngành I, Ngành II, Ngành III và Ngành IV, Ngành V. Tương ứng với 5 anh chị em trong dòng họ. Trong đó;

- Ngành I. Người con gái đầu là Cụ bà: Khổng Thị Suy

Tạ thế ngày: 19 tháng 4 năm 1973 – cụ hưởng thọ 85 tuổi, cụ kết hôn với

Cụ ông: Nguyễn Hữu Thâu, sinh sống tại Đền Am (xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng) thuộc giáo xứ Xuân Điện (9); nhà thờ giáo xứ tọa lạc tại thôn Bắc Ngãi Am, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; cách Tòa Giám mục Hải Phòng 30km về phía Nam.

Tạ thế ngày: 02 tháng 02 năm 1972 – cụ hưởng thọ 87 tuổi. Cụ sinh được hai người con, một trai và một gái, bao gồm:

Chi 1 (Ông: Nguyễn Hữu Lộ)

Chi 2 (Bà: Nguyễn Thị The)

Nghĩa trang tại: thôn Bắc Ngãi Am, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.

(9). Xuân Điện là một giáo xứ mới nhưng có lịch sử hình thành dài lâu và cũng nhiều lần đổi tên. Ban đầu là họ Ngãi Am, sau đó được đổi thành Đền Am và giờ đây là Giáo xứ Xuân Điện. Theo giải thích của các bô lão trong làng thì “Xuân" là chỉ mùa xuân, mùa mang lại sức sống mới cho vạn vật; “Điện" chỉ chỗ thờ thần thánh. Xuân Điện nghĩa là nơi thờ tự và trổ sinh sức sống tốt tươi.

Giáo xứ Xuân Điện thuộc giáo hạt Nam Am có nhà thờ xứ tọa lạc tại xã Hòa Bình huyện Vĩnh Bảo, phía Đông Nam giáp xã Trấn Dương, phía Tây giáp xã Lý Học, phía Bắc và Đông Bắc giáp xã Đoàn Lập (huyện Tiên Lãng), phía Nam Giáp xã Vĩnh Tiến; cách Tòa Giám mục Hải Phòng 30km về phía Nam.

 

-  Ngành II. Người con trai thứ hai là. Cụ ông Khổng Hữu Thư (Ngành trưởng).

Tạ thế ngày: 29 tháng 5 năm 1946.

Tức ngày Quý Dậu, tháng Giáp Ngọ, năm Bính Tuất.

Nhằm: ngày 28 tháng 6 năm 1946.

Cụ kết hôn với cụ bà Khổng Thị In ở Khu Trung.

Tạ thế ngày: 18 tháng 3 năm 1962.

Tức ngày Canh Dần, tháng Giáp Thìn, năm Nhâm Dần.

Nhằm: ngày 22 tháng 4 năm 1962.

Nghĩa trang: tại Nam Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng: thuộc Giáo Xứ Nam Am (10), Giáo Phận Hải Phòng

Cụ Khổng Hữu Thư sinh được 8 người con, bao gồm:

Chi 1 (Cụ ông: Khổng Hữu Thả - Đã mất năm 1956)

Chi 2 (Cụ ông: Khổng Hữu Thong. Hiện nay vẫn chưa có thông tin của cụ.)

Chi 3 (Cụ bà: Khổng Thị Tào)

Chi 4 (Cụ bà: Khổng Thị Rảo)

Chi 5 (Cụ bà: Khổng Thị Nhỡ)

Chi 6 (Cụ bà: Khổng Thị Tông)

Chi 7 (Cụ ông: Khổng Hữu Cưu) – Chi Trưởng

Chi 8 (Cụ ông: Khổng Hữu Mưu) – Chi Thứ

 


(10). Vào cuối năm 1689, Giáo xứ Nam Am được thành lập do các cha dòng thừa sai Đa Minh và nhận Đức Mẹ Mân Côi làm Đấng bảo trợ.

Giáo xứ Nam Am là một xứ đạo trung tâm, trước đây thuộc phủ Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, cách Tòa Giám mục Hải Phòng khoảng 36 km về phía Tây Nam.

Theo dân gian, Nam Am được kể vào vùng Đất Trạng, vì gắn liền với cuộc đời Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, với 18 làng Am (Thập bát Trang Am). Cho đến nay tên nhiều thôn làng vẫn gắn liền với chữ Am, trong đó có Nam Am. Thời kỳ chưa chia tách, Nam Am là xứ đạo lớn của Giáo phận với 4 khu và 24 giáo họ, nằm rải rác khắp huyện Vĩnh Bảo.

Năm thành lập: 1632

Số nhân danh: 2.700 người

Quan thầy: Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ

Linh mục chính xứ: Gioan Baotixita Nguyễn Quang Sách

Giáo họ trực thuộc: Lôi Làng và Tân Am

Địa chỉ: Nam Am, Tam Cường, Vĩnh Bảo, Hải Phòng

- Ngành III. Người con trai thứ 3 là. Cụ ông Khổng Hữu Ư (Ngành thứ).

Cụ sinh năm: 1910.

Tạ thế ngày: 12 tháng 4 năm 1977.

Tức ngày Bính Tuất, tháng Ất Tỵ, năm Đinh Tỵ.

Nhằm: ngày 29 tháng 5, năm 1977.

Hưởng thọ: 67 tuổi.

Nghĩa trang: tại Hố nai, biên hòa, đồng nai:

Cụ kết hôn với cụ bà. Nguyễn Thị Sê ở đập hệ, Thái Bình.

Cụ sinh năm: 1912.

Tạ thế ngày 5 tháng 10 năm 1959.

Tức ngày Tân Mão, tháng Ất Hợi, năm Kỷ Hợi.

Nhằm: ngày 5 tháng 11, năm 1959.

Hưởng thọ: 47 tuổi.

Nghĩa trang: tại Hố nai, biên hòa, đồng nai:

Cụ sinh được 4 người con. Hiện nay, con cháu đang sinh sống tại. Hố nai, Biên hòa, Đồng Nai – thuộc Giáo xứ Bắc Hải (11), Giáo phận Xuân Lộc (12) và Thành phố Hồ Chí Minh. bao gồm:

Chi 1. (Cụ bà, Khổng Thị Ra).

Chi 2. (Cụ ông, Khổng Hữu Vạn) – Chi trưởng

Chi 3. (Cụ ông, Khổng Hữu Quốc) – Chi Thứ

Chi 4. (Cụ ông, Khổng Hữu Bảy - Chi Thứ nhất, con cháu của cụ, hiện nay, đang sống tại, hẻm 783/3 – Phường 6 - Đường CMT8 – Tân Bình – TP HCM).

 


(11). Tháng 09.1954, một số giáo dân, phần lớn thuộc Giáo phận Hải Phòng gồm các xứ Nam Am, Hội Am, Vĩnh Ninh, Đồng Giới, Đông Khê, Ngọc Lý, Văn Mạc, Đào Xá và An Toàn, đến định cư lập nghiệp hai bên quốc lộ 1A cách Biên Hòa 7 km. Giai đoạn đầu, đời sống cơ cực nên một số giáo dân tản mác đi những nơi khác sinh sống. Số giáo dân còn lại thành lập từng xứ và có nhà thờ riêng. Trước tình hình số giáo dân đã ít lại chia thành nhiều xứ, Cha Phêrô Vũ Trọng Thư kêu gọi các Giáo xứ hợp lại thành lập một Giáo xứ và lập nên Giáo xứ Bắc Hải. Ngôi thánh đường đầu tiên của Giáo xứ Bắc Hải được làm bằng cây, mái lá với diện tích khoảng 60m2. Năm năm sau, Cha Gioan Baotixita Nguyễn Thanh Hải kế nhiệm Cha Phêrô phụ trách Giáo xứ và cùng với cộng đoàn xây dựng nhà thờ mới với diện tích 450 m2. Năm 1971, Cha Gioan Baotixita và cộng đoàn Bắc Hải một lần nữa xây nhà thờ mới với kích thước 19m x 55m bằng vật liệu kiên cố và tháp chuông cao 42m.

Từ 1975 đến 2005, Cha Giuse Phạm Ngọc Hoan về phụ trách giáo xứ. Bên cạnh việc nâng đỡ đời sống đức tin cho cộng đoàn, Cha Giuse đã chỉnh trang lại thánh đường, xây nhà giáo lý cũng như các tượng đài. Năm 2005, Cha Đaminh Bùi Văn Án thay thế Cha Giuse phụ trách Giáo xứ Bắc Hải. Năm 2012, Cha Đaminh cùng với cộng đoàn Giáo xứ đại trùng tu toàn bộ nhà thờ và các cơ sở sinh hoạt tôn giáo khác. Hiện nay, Giáo xứ Bắc Hải đã có cơ sở vật chất khang trang và đời sống đạo ngày càng thăng tiến.

Địa chỉ tại: Phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(12). Giáo phận Xuân Lộc (tiếng Latin: Dioecesis Xuanlocensis) là một giáo phận Công giáo Rôma tại Việt Nam. Giáo phận này có diện tích 6439 km², nằm trong địa bàn tỉnh Đồng Nai và thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Đây là giáo phận đông giáo dân nhất Việt Nam, với khoảng 1.015.315 dân, chiếm tỷ lệ gần 1/3 dân số của tỉnh (32,78% dân số) trong tổng số dân trên địa bàn là 3.097.107 người, có 650 linh mục triều và dòng, 200 đại chủng sinh, và hơn 1.800 nữ tu, 278 giáo xứ. Đây là giáo phận của những người di cư và nhập cư hình thành và phát triển

Cai quản giáo phận này hiện là Giám mục chính tòa Gioan Đỗ Văn Ngân (từ 2021).

- Ngành IV. Người con gái thứ 4 là. Cụ bà Khổng Thị Sê.

Cụ sinh năm: ……………………………….

Tạ thế ngày: ……………………………….

Tức ngày ……………………………….

Nhằm: ……………………………….

Hưởng thọ: ……………………………….

Nghĩa trang: ……………………………….

Cụ kết hôn với cụ Ông. Khổng Trung Tài ở khu đông

Cụ sinh năm: ……………………………….

Tạ thế ngày: ……………………………….

Tức ngày ……………………………….

Nhằm: ……………………………….

Hưởng thọ: ……………………………….

Nghĩa trang: ……………………………….

Hai cụ sinh được hai người con, bao gồm:

Chi 1. (Cụ ông, Khổng Trung Giỏi).

Chi 2. (Cụ bà, Khổng Thị Khéo).

- Ngành V. Người con trai thứ 5 là. Cụ ông: Khổng Minh Từ.

Cụ sinh năm: ……………………………….

Tạ thế ngày: 29/09/1990

Tức ngày ……………………………….

Nhằm: ……………………………….

Hưởng thọ: 80 Tuổi

Nghĩa trang: ……………………………….

Cụ kết hôn với cụ Bà: Nguyễn Thị Riễm ở Lôi Làng

Cụ sinh năm: ……………………………….

Tạ thế ngày: 20/10/……

Tức ngày ……………………………….

Nhằm: ……………………………….

Hưởng thọ: ……………………………….

Nghĩa trang: ……………………………….

Hai cụ sinh được 4 người con, bao gồm:

Chi 1. (Cụ ông, Khổng Minh Chới) – Chi trưởng

Chi 2. (Cụ ông, Khổng Minh Chời) – Chi Thứ

Chi 3. (Cụ bà, Khổng Thị Hới).

Chi 4. (Cụ ông, Khổng Minh Hời)

Các con cháu ở xa, tuy đã thành lập Ngành để thuận lợi cho việc liên lạc và sinh hoạt. Tuy nhiên, trong gia phả này, những người định cư ở xa đó, đều thuộc một trong các Ngành, Chi nêu trên theo quan hệ huyết thống, đến nay cũng chưa có sự ghi chép chi tiết nào về các ngành để lưu truyền hậu thế.

Để xây dựng thành công Gia phả, những chuyến đi điền dã đã được tiến hành như: khảo sát, chụp ảnh các khu mộ; phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng; thu thập, chụp ảnh các gia phả, các ghi chép tại các gia đình, các chi, ngành tại Hố Nai – Biên Hòa – Đồng Nai, tại TPHCM, Tại xã Hùng Tiến, xã Tam Cường, huyện Vĩnh bảo và tại quê nhà Nam Am vv….. .

Gia phả này được dựng một cách khoa học và toàn diện, theo hướng phản ánh tính trung thực lịch sử, tình đoàn kết của Dòng Họ, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Nó có bố cục gồm các phần sau: lời nói đầu, phả ký, phả đồ, phả hệ, ngoại phả và phụ khảo. Trong đó phần phả đồ sẽ được in thành khổ lớn có đầy đủ họ tên toàn gia tộc từ cụ Thủy tổ đến đời thứ 3, chỉ rõ anh em, bố mẹ, ông bà, tổ tiên. Ngoài ra một số phả đồ nhỏ sẽ được tách ra bổ sung cho phần phả hệ được tường minh. Phần phả hệ sẽ được trình bày theo phương pháp tổng hợp (kết hợp phương pháp theo chiều ngang và phương pháp theo chiều dọc): cắt dọc phả hệ ra từng phần nhỏ (ngành, chi, nhánh, gia đình…), ở phần nhỏ trình bày theo phương pháp chiều ngang. Phần phả ký sẽ là những ghi chép phản ánh lịch sử một cách trung thực, không cường điệu gây phản cảm và phần này có nhiều thông tin mới. Những thông tin chưa có hoặc chưa rõ ràng thì sẽ để dấu chấm "…" nhằm thuận tiện cho việc thêm thông tin bổ xung vào. Đặc biệt phần ngoại phả và phụ khảo là những phần mới mà những gia phả cũ không có.

Trong gia phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II, có tới 6 thế hệ. Như vậy, để phù hợp với muôn đời sau cũng như thuận tiện trong ghi chép, Ban biên tập quy ước xưng danh ông/ bà (cụ Ông/ cụ Bà) để thể hiện sự trang trọng và phân biệt giới tính chứ không phải ông/ bà trong đại từ xưng hô - thể hiện vai vế. Còn về thứ tự thế hệ, vai vế, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra do phả đồ rất cụ thể và các ghi chú đình kèm. Chẳng hạn số trong ngoặc đơn () chỉ thế hệ, ví dụ: (2) thế hệ thứ 2. Hai chữ chỉ 2 mốc năm trong ngoặc kép (nnn1-nnn2) chỉ năm sinh năm mất, ví dụ: (1866-1951) năm sinh 1866, năm mất 1951. Theo truyền thống, ngày giỗ trong gia phả này tất nhiên là ghi theo âm lịch. Ngày sinh và năm sinh (nếu có) ghi theo dương lịch, một số trường hợp ghi theo âm lịch sẽ có chú thích kèm theo.

Về thứ tự các con trong gia đình, gia phả này nỗ lực ghi một cách đầy đủ theo thứ tự không phân biệt con Trai hay con Gái, ai sinh trước ghi trước. Mặt khác, gia phả chỉ ghi tên những người con của con trai, nói cách khác, đó là những người có thiên chức duy trì nòi giống của Dòng họ mình. Đây không phải quan điểm trọng nam khinh nữ, mà những người con của các con gái mang họ của bố đã thuộc dòng họ khác và được theo dõi ở gia phả họ đó, chúng ta có thể tham khảo gia phả của các dòng họ đó khi cần. Một số trường hợp con của con gái theo họ mẹ thì vẫn theo dõi bình thường như những người con của con trai. Các bà vợ của các ông trong họ (gọi chung là nàng dâu) vì đã về làm dâu họ Khổng Hữu – Ngành II hiển nhiên phải theo dõi, thống kê đầy đủ nhất có thể.

Tuy nhiên, một phần do lịch sử để lại, một phần do việc thu thập hay cung cấp thông tin còn thiếu đồng bộ nên trong quá trình xây dựng Gia phả Dòng Họ Khổng Hữu – Ngành II, có người nhiều thông tin, có người ít thông tin, thậm chí có người không có những thông tin cơ bản như tên, ngày giỗ,… Đó không phải sự thiên vị, quý mến hay ghét bỏ ai đó, đơn giản là gia phả muốn phản ánh đầy đủ thông tin nhất có thể, ai không có thông tin hoặc chưa cung cấp thông tin thì đành để trống. Có những khó khăn mà chưa khắc phục được và có những phần việc chưa thể hoàn thành như: thứ tự anh em trong gia đình có thể chưa đúng, sai chính tả, đánh nhầm tên, đệm, đánh nhầm thứ tự thế hệ, ngày tháng năm sinh hầu như chưa có, ngày giỗ có thể nhầm hoặc chưa có,… Mong muốn thì nhiều, kỳ vọng cũng nhiều nhưng sức người có hạn, nhiều việc cảm giác như “lực bất tòng tâm”. Vì thế thật khó mà tránh khỏi những thiếu sót. Mong rằng những thiếu sót này sẽ được các thành viên trong dòng họ nhiệt tình góp ý, phản biện vv… để các lần xuất bản sau hoàn thiện hơn. Cũng mong rằng, các hậu duệ sau này có được trí tuệ, công cụ và phương pháp tốt hơn để những trang sử truyền thống của dòng họ mãi mãi được duy trì, có sức hấp dẫn và có nhiều thông tin hơn.

Để phục vụ nguyện vọng của từng Ngành, từng Chi, ngoài việc xuất bản cuốn Giả phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II”, Ban biên tập còn xuất bản một số gia phả các Ngành, các Chi để có thông tin về các ngành khác hoặc toàn dòng họ thì độc giả có thể xem cuốn “Gia phả dòng họ Khổng Hữu – Ngành II”.

 

0 Nhận xét: