Gia phả(1) là tinh hoa và cốt cách của dòng họ. Trong một dòng họ nếu không có gia phả thì không thể đảm bảo kỷ cương tôn ti trật tự trên dưới, không biết nhau, quan hệ tình cảm mọi thành viên trong gia tộc mỗi ngày một rạn nứt và phai nhạt dần.
Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, vai trò và công đức của tổ tiên, ông, bà, cha mẹ…trong thời đại mà họ đã sinh ra và lớn lên. Ngày nay, việc viết gia phả để ghi chép lại những điều cần nhớ về cội nguồn của từng dòng tộc đã trở nên khá phổ biến. Gia phả giúp cho các thế hệ sau sẽ biết quê quán mình ở đâu, ông bà cụ tổ mình là ai, ai có họ hàng với mình và họ hàng như thế nào… Nhờ đó mà có cách chào hỏi đúng lễ nghĩa.> Xem tiếp
Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026
Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026
Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026
Gia phả học là một ngành của khoa học lịch sử. Sử sách ghi lại những sự kiện của đất nước, Gia phả ghi lại những sự kiện của gia đình và dòng họ. Đối tượng của gia phả học là gia đình và dòng họ. Gia phả học có mối quan hệ và sự tác động qua lại của với các môn khoa học về con người. Gia phả xuất hiện ở Phương Tây và Phương Đông từ xa xưa.
Gia phả học là một môn học cổ xưa của thế giới. Thuật ngữ phương Tây gọi Gia phả học là “Genealogy”. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp : genea là “generation” có nghĩa là thế hệ, logos là “speech”, “an opinion”, “knowledge” có nghĩa là lời nói, tư tưởng, học thuyết. “Genealogy” là môn học nghiên cứu về lịch sử của các gia đình, các dòng họ.
Thuật ngữ “Gia phả” là từ Hán Việt. “Phả” còn được gọi là “Phổ”, chỉ là một cuốn sổ để ghi chép. Chữ “Phả” cũng còn có nghĩa là trưng bày hay là ghi chép thứ tự. Nói cho gọn nghĩa theo chữ Hán thì “Gia” 家 tức là nhà, còn “Phả” 譜 tức là phả vào, chép vào. Theo Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh thì Gia phả là quyển sách chép “Thế hệ lịch sử tổ tiên trong họ”. Theo cách hiểu Á Đông thì Gia phả là quyển sách ghi chép liên tục đời này tiếp qua đời khác tên tuổi Tổ tiên và con cháu của một nhà, một dòng họ.
Gia phả học là môn học nghiên cứu về gia phả. Nhờ gia phả, người ta biết được đầy đủ những gia đình, các cá nhân bên trong những gia đình ấy. Mục đích của Gia phả học là nghiên cứu một cách khách quan và toàn diện những tiền nhân và hậu duệ của những cá nhân, những mối quan hệ thân tộc của họ, những điểm các biệt về thể chất, trí tuệ và đạo đức của họ.
Gia phả học vừa hỗ trợ cho nhiều môn khoa học về con người, vừa là một môn học có đối tượng và phương pháp riêng.
1. Đối tượng của Gia phả học
Đối tượng của gia phả học là gia đình và dòng họ. Gia phả là cái phản ánh của gia đình và dòng họ. Vì vậy, trước hết phải hiểu thấu đáo về gia đình và dòng họ.
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện việc nối truyền nòi giống.
Có thể phân chia gia đình thành hai loại:
• Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ. Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ.
• Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con.
Nhiều cá nhân hợp lại thành Gia đình, nhiều gia đình thành một Dòng họ. Dòng họ bao gồm nhiều gia đình cùng có quan hệ huyết thống và nguồn gốc tổ tiên. Dòng họ là một hiện tượng lịch sử – xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại.
Gia đình – dòng họ là đối tượng của Gia phả. Gia đình – dòng họ có trước, gia phả có sau. Nội dung của gia đình – dòng họ được phản ánh qua gia phả. Việc nhận thức gia đình và dòng họ càng sâu sắc càng bảo đảm cho việc nghiên cứu và thực hành gia phả đạt chất lượng cao.
Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Nước có Sử, Nhà có Phả, Sử để ghi lại những sự kiện của đất nước, Phả là để ghi lại những thăng trầm của một họ tộc. Gia phả khác với lịch sử ở chỗ là chỉ dùng trong phạm vi một nhà, một dòng họ, trong khi Sử lại bao gồm hết thảy sự việc hoặc hành động của nhiều người ở nhiều họ khác nhau nhưng liên quan mật thiết tới quốc gia.
2. Chức năng của Gia phả học
Mỗi một môn khoa học đều có một số chức năng nhất định. Chức năng của mỗi môn khoa học được phản ánh ở mối quan hệ và sự tác động qua lại của chính môn khoa học đó với thực tiễn xã hội. Gia phả học có các chức năng cơ bản sau đây:
• a. Chức năng nhận thức: trang bị cho người nghiên cứu gia phả những tri thức về dòng họ và những quy luật phát triển của dòng họ; nhờ đó mà chúng ta có được nhãn quan mới mẻ hơn khi tiếp cận tới các hiện tượng gia đình và dòng họ, cũng như các sự kiện liên quan đến dòng họ. Từng tập hợp các thế hệ nhất định cho ta biết tư tưởng, nhận thức và hành động của họ trong từng thời đại một.
• b. Chức năng tư tưởng: Gia phả học giúp chúng ta nhận thức đầy đủ vị trí của con người trong gia đình dòng họ, góp phần nâng cao tính tích cực của cá nhân và hình thành nên tư duy khoa học trong khi xem xét, phân tích, nhận định, dự báo về các sự kiện, hiện tượng và quá trình phát triển của dòng họ. Giáo dục, định hướng cho việc xây dựng dòng họ văn hóa; góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh.
• c. Chức năng dự báo: Trên cơ sở nhận diện được hiện trạng dòng họ thực tại và sử dụng các lý thuyết dự báo, các nhà Gia phả học sẽ mô tả được triển vọng vận động của dòng họ trong tương lai gần cũng như tương lai xa hơn.
• d. Chức năng quản lý: Trước hết cần phải nói rõ ngay rằng Gia phả học không phải là khoa học quản lý, nhưng có một điều chắc chắn rằng tất cả các hoạt động quản lý xã hội, hành chính hay nhân sự chỉ trở nên tối ưu khi mà biết sử dụng tốt các kết luận, nhận định và dự báo của Gia phả học về cá nhân và dòng họ.
• e. Chức năng công cụ : Các phương pháp, các kỹ thuật thao tác, các cách thức tiếp cận dòng họ của Gia phả học là những công cụ hữu ích và hết sức cần thiết trong quá trình nghiên cứu về dòng họ và xã hội.
• f. Chức năng cải tạo thực tiễn: Gia phả học không phải nghiên cứu dòng họ để biết cho vui mà thực sự nó góp một phần hết sức quan trọng vào việc cải biến hiện thực.
Dựa vào sự phân tích hiện trạng của dòng họ, Gia phả học sẽ góp phần làm sáng tỏ sự phát triển của dòng họ trong các lĩnh vực đời sống xã hội, phản ánh đời sống tâm tư, tâm hồn và ý chí của cả một dân tộc. Gia phả học sẽ bổ sung nhận thức, hành động, ứng xử đúng đắn, trọn vẹn nhiều mặt thuộc lịch sử, văn hóa, đời sống con người.
Các chữ thường được dùng trong gia phả, bài vị, bia mộ
Sau đây là một số chữ thường gặp trong gia phả, bài vị, bia mộ…
Hãy thử tìm hiểu ý nghĩa và cách dùng của chúng…(Kiến thức để tham khảo)
A. Khảo, tỷ
Trong dân gian, các vị tổ tiên sau khi an táng, khi đặt thụy hiệu bài vị cụ ông thường ghi khảo [考], cụ bà ghi thêm tỷ [妣] (đời cha, mẹ không gọi phụ, mẫu, mà gọi là khảo, tỷ và thường hay thêm chữ hiển [顯,giản thể 显] nếu cha mẹ đã mất thành hiển khảo, hiển tỷ). Tại nông thôn, nhiều vùng tới nay vẫn còn dùng khảo để gọi cha mẹ ngay cả khi họ còn sống (ông khảo, bà khảo).
Hai chữ khảo và tỷ này xuất phát tử đâu?
Người Trung Hoa có câu thành ngữ "như táng khảo tỷ" [如喪考妣], chỉ sự đau thương tột cùng như khi táng cha mẹ, có thể thấy "khảo" và "tỷ" dường như không liên quan đến ý nghĩa mất, chết mà chính nghĩa là công lao bố, mẹ, sau này được dùng kết hợp trong bài vị để ca tụng, dần dần chuyển mang nghĩa: cha mẹ đã mất. Theo "Khảo công ký" giải thích: "Khảo, tức thành. Tỷ, tức sánh bằng". Ý rằng, công nghiệp dưỡng dục con cái của cha đã cáo thành, viên mãn. Đức nghĩa, công lao của mẹ với con cái và với gia đình cũng to lớn, sánh tày. Khảo, tỷ phản ánh tư tưởng truyền thống "nam chủ ngoại, nữ chủ nội" trong tâm thức người Trung Hoa.
Trước khảo, tỷ thường đặt chữ "hiển". "Hiển" tức ý thanh danh thâm viễn, đức hạnh rực rỡ. "Hiển khảo", "hiển tỷ" tức công ơn, đức hạnh của cha mẹ sau khi mất vẫn hiển rạng, còn mãi. Khi lập bài vị, thường viết "hiển khảo", "hiển tỷ" để biểu dương ca ngợi đức hạnh của cha mẹ và tỏ tấm lòng thành kính hàm ơn của con cháu.
Cổ đại giảng về Tam bất mục (Ba điều không mục nát) có: "Thái thượng lập đức, kỳ thứ lập công, kỳ thứ lập ngôn". Công và ngôn không phải gia đình nào cũng có, nhưng đức thì luôn luôn rạng tỏ, bởi vậy mà hiển khảo, hiển tỷ là từ đặt thụy phổ thông của con cháu với tổ tiên của mình.
B. Phủ quân, nhụ nhân, tiên sinh, phu nhân
Cuối tên họ và trước hai chữ thần vị (nếu có) trong các bài vị, văn bia thường đề thêm các chữ:
1. Với nam: tiên sinh, phủ quân.
2. Với nữ: phu nhân, nhụ nhân.
Xuất xứ của các chữ này đến từ đâu?
- Tiên sinh, nguyên là từ tôn xưng những người có học, hoặc làm nghề trí thức, dạy học thời Hán, tới nay vẫn dùng để chỉ đàn ông có tri thức, học vấn.
- Phủ quân, nguyên là từ tôn xưng quận tướng, thái thú thời Hán và tôn xưng thần linh nói chung. Người xưa cũng dùng từ này để tôn xưng người đã quá cố là nam, đặc biệt dùng nhiều trong văn bia, mộ chí.
- Phu nhân, nguyên là tên tôn xưng vợ của chư hầu thời Chu. Đến đời Hán dùng tôn xưng vợ của liệt hầu. Liệt hầu chết, con kế vị, gọi mẹ là "Thái phu nhân". Vợ cả của hoàng đế đời Hán cũng gọi là phu nhân. Đời Đường, mẹ hoặc vợ của chư hầu, quan nhất phẩm, quốc công gọi là "Quốc phu nhân"; mẹ hoặc vợ của quan tam phẩm trở lên gọi là "quận phu nhân". Đời Tống, vợ của quan viên nhất phẩm, nhị phẩm đều được phong là "phu nhân". Đời Thanh, vợ của người được phong tới "phụ quốc tướng quân" được gọi là "phu nhân". Vào thời cổ, phu nhân cũng là từ tôn xưng phụ nữ nói chung.
- Nhụ nhân: thời cổ nguyên là tôn xưng vợ của quan đại phu, đời Thanh là phong hiệu vợ hoặc mẹ của quan thất phẩm. Đây cũng là từ tôn xưng người phụ nữ nói chung.
Các gia đình có học thức, hiểu biết hoặc có chức sắc thường thêm vào cuối tên họ cha mẹ, ngay trước chữ "thần vị", bia mộ hai chữ Tiên sinh - phu nhân hoặc Phủ quân - Nhụ nhân. Sau trong dân gian cũng học tập dùng các chữ này để tôn xưng cha mẹ sau khi mất, không phân biệt có chức sắc và không chức sắc, trở thành một lệ thường.
C. Tên húy, tự, thụy, hiệu
- Tên húy 諱: là tên thật do cha mẹ đặt. Khi chết gọi là tên húy, mà lúc sống gọi là danh. Thí dụ “Võ gia sinh húy bộ”, là tập sách ghi ngày sinh và tên húy của các vị đã mất nhà họ Võ. “Tổ khảo Phan tam lang húy Chỉnh”, câu này có nghĩa: Ông nội là con thứ ba họ Phan tên Chỉnh, lúc sanh thời có tên là Chỉnh.
- Tên tự 字: trên 20 tuổi, mỗi người được đặt thêm 1 tên mới gọi là tự, gọi là biểu tự, và thường có 2 chữ. Thí dụ: Nguyễn Du tự là Tố Như, Khổng-tử tên là Lí 鯉, tên tự là Bá-ngư 伯 魚… Theo kinh lễ, có một lễ gọi là Quan (còn đọc là quán) 冠 - một trong tứ lễ theo sách Gia Lễ của Chu Tử : quan, hôn, tang, tế. Ngày xưa, con trai 20 tuổi thì làm lễ đội mũ, cho nên con trai mới 20 tuổi gọi là nhược quán 弱 冠, chưa đến 20 tuổi gọi là vị quán 未冠.
- Thụy 諡, 謚, 谥: lúc người sắp chết người khác đem tính hạnh của người sắp chết ấy so sánh rồi đặt cho một tên khác để khi cúng giỗ khấn đến gọi là thụy, ta gọi là tên cúng cơm.
- Hiệu 號, 号: tên dùng ngoài đời, không phải tên thật.
Thí dụ tên cha mẹ đặt cho là Hiển - Nguyễn Doãn Hiển. Trong gia phả lại ghi “Nguyễn quý công tự Phúc Hiển”, điều này có nghĩa, lúc sinh thời ông Hiển không có tên tự, khi mất thầy cúng lấy luôn tên khai sinh đó làm tên tự. Nếu người đó hưởng dương từ 50 tuổi trở lên thì đặt trước tên chữ "Phúc", còn dưới 50 tuổi đến 20 tuổi thì chữ "Trực", còn dưới 20 là chết yểu thì không ghi tên tự. Việc này để viết giấy sớ và cúng khấn hay bia mộ, phú ý thôi.
Đây là cách xưng hô dành cho người mất ở mỗi độ tuổi có một danh từ khác nhau:
1-10 gọi là đào hoa
10-20 gọi là thanh xuân
20-30 gọi là xuân quang
30-40 gọi xuân dương
40-50 gọi là dương quang
50-60 gọi là thu sương
60-70 gọi là hà linh
70-80 gọi là thọ kỳ
80-90 gọi là mạo điệt
90-100 gọi là kỳ di
Còn một cặp từ nữa là “ông mãnh”, “bà cô”:
- Ông mãnh là người nam chết trẻ còn chưa lập gia đình, độ tuổi từ 13 tuổi trở lên hoặc là người đàn ông sống độc thân khi chết trung tuổi hoặc cao tuổi.
- Bà cô tổ là người nữ trẻ trong họ nhà mình chết khi chưa lấy chồng (thường chết từ 12-18 tuổi).
